N238 — Không chậm trả tiền công

English: Not to delay payment of a worker.

Hebrew (Maimonides): שלא לאחר פעולת שכיר

Nguồn Torah: Lêvi 19:13 — “Đừng áp bức người lân cận, đừng cướp của người ấy; tiền công của người làm thuê không được ở lại với ngươi qua đêm đến sáng.”

Ngữ nghĩa và cách dịch: Cụm לֹא תָלִין פְּעֻלַּת שָׂכִיר (lo talin pe’ulat sakhir (“tiền công của người làm thuê không được ở qua đêm”) dùng hình ảnh đồng tiền “ngủ lại” trong nhà chủ. Mishneh Torah nói người giữ tiền công của người làm thuê “như lấy đi sự sống của người ấy”, theo Phục Truyền 24:15, “vì người ấy nghèo và trông đợi vào nó”, và vi phạm bốn điều cấm và một điều răn tích cực. Maimonides định thời hạn cụ thể: người làm ban ngày thì phải được trả trong đêm; người làm ban đêm thì trong ngày hôm sau; và điều luật áp dụng cả cho tiền thuê súc vật và dụng cụ.

Bối cảnh và ý nghĩa: Một chi tiết quan trọng: Mishneh Torah nói nghĩa vụ trả đúng hạn áp dụng cả cho ger toshav, người ngoài Do Thái cư ngụ. Lời bảo vệ người lao động vì vậy không giới hạn trong cộng đồng. Maimonides còn nêu những giới hạn hợp lý: người vi phạm không bị phạt roi “vì phải trả tiền”; và nếu người làm thuê không đòi, hay chủ không có tiền, thì không vi phạm. Trong nền kinh tế trả công theo ngày của thế giới cổ, tiền công của một ngày thường là bữa ăn của ngày hôm sau. Điều luật này vẫn áp dụng ngày nay. Nhiều cộng đồng coi đây là nền tảng cho quan điểm Do Thái về quyền lao động.

Đối chiếu lỗi thường gặp: Không nên nghĩ điều luật chỉ áp dụng cho người làm công nhật: Mishneh Torah áp nó cho người làm theo tuần, tháng hay năm, tính từ lúc kết thúc kỳ làm việc. Và nó bao gồm thợ nhận khoán như thợ may.

Nguồn tham khảo

Phần “Bối cảnh và ý nghĩa” là bản tổng hợp từ các nguồn trên; cách đọc của Maimonides và của truyền thống rabbi không được trình bày như bản dịch từng chữ của Torah.


← N237 · Danh mục 613 điều răn · N239 →